Sunday, 23 February 2020
TIN MỚI

Ngân hàng với các chính sách góp phần cải thiện môi trường kinh doanh

Hinh anh hoat dong Ngan hangTheo Báo cáo Môi trường kinh doanh năm 2020 được Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 24/10/2019, chỉ số tiếp cận tín dụng là 01 trong 05 chỉ số được nâng hạng, tăng 5 điểm và tăng 7 bậc so với báo cáo trước (vượt mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết 01/NQ-CP là tăng ít nhất 01 bậc trong năm 2019), đứng thứ 2 trong các nước ASEAN (sau Brunei), đứng 25/190 nền kinh tế - vượt mục tiêu đề ra.

Có thể khẳng định, Chỉ số Tiếp cận tín dụng của Việt Nam là một điểm sáng trong nỗ lực triển khai kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Chỉ số này cũng thể hiện sự quyết tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong việc chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp được tiếp cận tín dụng công bằng, minh bạch.

Cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng của khách hàng vay

Đạt được những kết quả tích cực nêu trên là do thời gian qua, ngành Ngân hàng đã tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp.

Ngay từ đầu năm, sau khi Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 08/01/2019 về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2019. Đồng thời, ban hành và đăng tải Tài liệu hướng dẫn về Chỉ số Tiếp cận tín dụng theo tiêu chuẩn của WB, nhằm hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương có cách hiểu đúng, thống nhất về các chỉ số thành phần của chỉ số A4. Đối với những vấn đề cần tiếp tục phải cải thiện, NHNN đã đề xuất các Bộ, ngành liên quan phối hợp nghiên cứu và có giải pháp phù hợp.

Trong năm 2019, NHNN đã tổ chức Hội nghị trực tuyến đẩy mạnh cải cách hành chính trong ngành Ngân hàng, nhằm quán triệt và thống nhất quan điểm, tư tưởng từ Trung ương đến địa phương trong triển khai Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh; quyết liệt hành động tạo chuyển biến và hiệu quả rõ rệt trong công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng. Theo kết quả về chỉ số cải cách thủ tục hành chính (PAR-Index), NHNN liên tiếp 4 năm liền dẫn đầu các Bộ, ngành.

Đối với chỉ số chiều sâu thông tin tín dụng (TTTD), NHNN đã tập trung triển khai các giải pháp sau: Tiếp tục nâng cao chất lượng cơ sở TTTD quốc gia cả chiều rộng và chiều sâu, mở rộng nguồn thông tin từ các nguồn thông tin phi truyền thống. Ngoài ra, Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC) thuộc NHNN đã chủ động phối hợp về cơ chế trao đổi thông tin với các đơn vị mạng di động, bảo hiểm xã hội, thuế, dịch vụ tiện ích (điện, nước)...; Nâng cao tính minh bạch của TTTD, góp phần cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng của khách hàng vay, hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp sử dụng báo cáo thông tin tín dụng miễn phí, kết nối với các TCTD trên nền tảng website và thiết bị di động; Hỗ trợ các TCTD giảm chi phí hoạt động, từ đó giảm chi phí tiếp cận tín dụng cho người dân và doanh nghiệp. Trong năm 2019, CIC đã 2 lần điều chỉnh giảm giá sản phẩm dịch vụ, cụ thể: Ban hành quyết định số 105/QĐ-TTTD ngày 17/4/2019 về giảm giá 10% và quyết định 203/QĐ-TTTD ngày 30/9/2019 giảm 15% giá sản phẩm dịch vụ thông tin tín dụng.

Tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tiếp cận vốn

Trong điều hành chính sách, NHNN luôn quán triệt, chỉ đạo toàn ngành Ngân hàng tập trung các nguồn lực, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tiếp cận nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở bám sát các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã triển khai quyết liệt nhiều giải pháp.

Thứ nhất, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và đồng bộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng phục vụ sản xuất và kinh doanh cho người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã.

Thứ hai, chỉ đạo các TCTD tập trung vốn vào sản xuất, kinh doanh và ban hành các chương trình, chính sách tín dụng ưu đãi đối với các lĩnh vực ưu tiên (có đối tượng là doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp nông thôn).

Thứ ba, chỉ đạo các TCTD cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết cho vay song vẫn đảm bảo an toàn vốn vay; đồng thời kịp thời thực hiện các giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp khắc phục khó khăn do thiên tai, bão lụt, dịch bệnh và một số nguyên nhân bất khả kháng khác.

Thứ tư, hoàn thiện khung khổ pháp lý về hoạt động cho vay của TCTD theo hướng tăng cường thẩm quyền quyết định và chịu trách nhiệm của TCTD trong việc cho vay đối với doanh nghiệp, người dân theo quy định của Luật các TCTD.

Thứ năm, ban hành Thông tư số 45/2018/TT-NHNN ngày 28/12/2018 hướng dẫn các TCTD trong cho vay có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng theo quy định tại Nghị định số 34/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/03/2018 về thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV (Thông tư 45).

Tại Thông tư số 45 quy định: Dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng đã được Quỹ bảo lãnh tín dụng thẩm định và quyết định bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ gốc, trả lãi, trả nợ gốc và nợ lãi khoản vay theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 34/2018/NĐ-CP được TCTD xem xét, thẩm định, quyết định cho vay bằng đồng Việt Nam; mức lãi suất cho vay đối với các khoản vay ngắn, trung, dài hạn của khách hàng có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng, đảm bảo lãi suất cho vay không cao hơn lãi suất cho vay cùng kỳ hạn, cùng ngành, lĩnh vực của bên cho vay, phù hợp với quy định của NHNN và quy định của pháp luật có liên quan.

Trong năm 2019, ngành Ngân hàng cũng tổ chức các Hội nghị kết nối ngân hàng-doanh nghiệp, qua đó tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, nâng cao khả năng tiếp cận vốn ngân hàng cho doanh nghiệp.

Ưu đãi lãi suất và nhiều sản phẩm hỗ trợ doanh nghiệp

Hàng năm, tại các Chỉ thị, NHNN luôn chỉ đạo các TCTD cân đối nguồn vốn cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên, quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND thấp hơn lãi suất cho vay thông thường khoảng 1-2%/năm. Chỉ đạo NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố tích cực tổ chức kết nối ngân hàng - doanh nghiệp để nắm bắt, tháo gỡ khó khăn, tăng cường khả năng tiếp cập vốn tín dụng của doanh nghiệp.

Về chính sách tín dụng đối với DNNVV, theo chủ trương của Chính phủ, quy định của NHNN tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nhu cầu vay vốn ngắn hạn bằng đồng Việt Nam của DNNVV được TCTD xem xét, quyết định cho vay với lãi suất không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc NHNN quyết định trong từng thời kỳ.

Theo Quyết định số 1425/QĐ-NHNN ngày 7/7/2017, lãi suất cho vay tối đa là 6,5%/năm. Tiếp đó, đến 18/11/2019, NHNN đã ban hành Quyết định số 2416/QĐ-NHNN về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của TCTD đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế theo quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016.

Theo đó, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các nhu cầu vốn phục vụ nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DNNVV, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao giảm từ 6,5%/năm xuống 6,0%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô đối với các nhu cầu vốn này giảm từ 7,5%/năm xuống 7,0%/năm. Như vậy, trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối vơi DNNVV đã được giảm xuống còn 6%/năm.

Thực hiện quy định của Chính phủ tại các Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 quy định chi tiết về đầu tư cho DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DNNVV; Nghị định số 39/2019/NĐ-CP ngày 10/5/2019 về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển DNNVV, NHNN đã và tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để hoàn thiện các văn bản hướng dẫn, trong đó có các chính sách hỗ trợ tiếp cận vốn cho DNNVV thông qua các loại hình Quỹ như: Quỹ phát triển DNNVV, Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV, Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo.

Về phía các TCTD, thực hiện chỉ đạo của NHNN về việc tập trung vốn tín dụng cho lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các TCTD chủ động tiếp cận đối tượng khách hàng là nhóm DNNVV, đưa ra nhiều chương trình, sản phẩm ưu tiên, hỗ trợ cho các khách hàng DNNVV với mức lãi suất thấp hơn quy định của NHNN (xuống mức 5,5%/năm đối với nhu cầu vốn ngắn hạn bằng VNĐ).

Chính sách đột phá trong cho vay nông nghiệp, nông thôn

Trong công tác xây dựng cơ chế, chính sách tín dụng phù hợp để thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn, NHNN đã chủ động tham mưu trình Chính phủ ban hành chính sách tín dụng phù hợp với đặc thù của lĩnh vực này như: Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010, Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; và mới đây nhất NHNN đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2015/NĐ-CP với nhiều cơ chế, chính sách đột phá như nâng gấp đôi mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình (đối với cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp cư trú ngoài khu vực nông thôn từ 50 triệu đồng lên 100 triệu đồng; Cá nhân, hộ gia đình cư trú tại địa bàn nông thôn từ 100 triệu đồng lên 200 triệu đồng); có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện đầu mối liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; chính sách xử lý rủi ro đối với khách hàng gặp khó khăn do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng; quy định về việc quản lý dòng tiền liên kết trong sản xuất nông nghiệp, góp phần hạn chế rủi ro tín dụng và tạo cơ sở pháp lý khuyến khích tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho vay.

Thời gian qua, các TCTD đẩy mạnh triển khai một số chương trình, chính sách tín dụng đặc thù theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ như: cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 07/3/2017 của Chính phủ; cho vay hỗ trợ lãi suất nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó quy định điều kiện để doanh nghiệp được hưởng hỗ trợ là có ký kết thực hiện hợp đồng liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản, dịch vụ cơ giới hóa với tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc nông dân.

NHNN đã kịp thời ban hành các Thông tư hướng dẫn, chỉ đạo đồng thời ban hành nhiều chính sách khuyến khích đầu tư tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, bao gồm sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị.

Đồng thời, công tác truyền thông cũng được ngành Ngân hàng đẩy mạnh, nhằm tuyên truyền về các chính sách, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới người dân, doanh nghiệp, qua đó nâng cao kiến thức, kỹ năng và khả năng tiếp cận các sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng cho người dân.

Theo NHNN, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và ngành ngân hàng, đến cuối năm 2019, tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng khoảng 16% so với cuối năm 2018; tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tăng khoảng 11% so với cuối năm 2018 và chiếm khoảng 25% tổng dư nợ tín dụng nền kinh tế.

Trong điều kiện DNNVV ít có khả năng huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán, các nguồn vốn hỗ trợ có nguồn từ ngân sách nhà nước, vốn hỗ trợ quốc tế còn hạn chế thì vốn tín dụng ngân hàng vẫn là kênh tài trợ vốn chủ yếu cho DNNVV phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tín dụng ngân hàng đã góp phần quan trọng hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần tái cơ cấu nông nghiệp nông thôn, đồng thời xóa đói giảm nghèo và ngăn chặn, đẩy lùi tín dụng đen.

Phấn đấu môi trường kinh doanh theo xếp hạng EoDB lên 10 bậc trong năm 2020

Bước sang năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020. Trong đó có nêu rõ: Năm 2020 phấn đấu môi trường kinh doanh theo xếp hạng EoDB - Xếp hạng Doing Business (của Ngân hàng thế giới - WB) lên 10 bậc; năng lực cạnh tranh theo xếp hạng GCI 4.0 - Xếp hạng Global Competitiveness Index 4.0 (của Diễn đàn kinh tế thế giới - WEF) lên 5 bậc; đổi mới sáng tạo theo xếp hạng GII (của Tổ chức Sở  hữu Trí tuệ Thế giới - WIPO) - lên 3 - 4 bậc; Chính phủ điện tử (của Liên hợp quốc - UN) lên 10 - 15 bậc.

Cùng với đó, Nghị quyết 02 cũng yêu cầu: Về tiếp cận tín dụng, NHNN tiếp tục triển khai hiệu quả các giải pháp duy trì chỉ số chiều sâu thông tin tín dụng; chỉ đạo các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp được tiếp cận tín dụng công bằng, minh bạch.

Trong Chỉ thị 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2020, Thống đốc yêu cầu: Đẩy mạnh cải cách hành chính đảm bảo hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ theo chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước và kế hoạch cải cách hành chính của NHNN giai đoạn 2016-2020 góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Phấn đấu năm 2020 tiếp tục duy trì trong nhóm các Bộ, ngành dẫn đầu về xếp hạng chỉ số cải cách hành chính (Par Index); duy trì thứ hạng chỉ số Tiếp cận tín dụng thuộc nhóm 25 nước đứng đầu.

Để tăng cường hơn nữa các giải pháp đưa vốn hiệu quả đến doanh nghiệp, người dân, thời gian tới, trong điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng, NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và ổn định mặt bằng lãi suất cho vay góp phần tạo lập môi trường kinh doanh ổn định cho người dân, doanh nghiệp.

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách tín dụng ngân hàng, trong đó có quy định về hoạt động cho vay của TCTD; tổ chức và hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô nhằm tạo điều kiện cho loại hình TCTD này hoạt động ổn định và phát triển an toàn, bền vững; khuyến khích các TCTD mở rộng mạng lưới hoạt động ở những nơi chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của người dân, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa; phát triển các sản phẩm tín dụng tiêu dùng lành mạnh; tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vi mô phát triển an toàn, hiệu quả.

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả hoạt động tín dụng, các chương trình tín dụng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với đối tượng ưu tiên, tín dụng chính sách; phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan trong việc kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc trong cho vay các đối tượng ưu tiên, đối tượng chính sách trên toàn quốc, trong đó có khu vực trung du và miền núi phía Bắc.

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực hoạt động ngân hàng, kịp thời thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tiếp cận sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Đồng thời, đẩy mạnh công tác truyền thông, nhằm phổ biến kiến thức, hiểu biết của công chúng về tiền tệ, hoạt động ngân hàng, các chương trình, chính sách tín dụng do ngành ngân hàng triển khai để người dân nắm bắt đầy đủ thông tin và cách thức tiếp cận vốn vay.

Read 324 times
Rate this item
(0 votes)
Xem theo ngày tháng

Leave a comment

Make sure you enter all the required information, indicated by an asterisk (*). HTML code is not allowed.