Thứ hai, 09 Tháng 12 2019
TIN MỚI

Kiến nghị giải quyết tranh chấp liên quan đến tín dụng ngân hàng tại tòa

Hinh anh giai quyet tranh chap tai toaTiếp sau hội thảo “Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến tín dụng ngân hàng tại tòa án nhân dân” được phối hợp với Tòa án Nhân dân Tối cao tổ chức tại Hội An vào ngày 04/11/2019 vừa qua, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã tổng hợp một số vướng mắc nổi cộm nhất để kiến nghị với Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao nghiên cứu, có giải pháp tháo gỡ.

Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, các kiến nghị gồm 3 nhóm vấn đề liên quan, đó là:

Nhóm vướng mắc, bất cập kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao hướng dẫn để thống nhất nhận thức và áp dung quy định của pháp luật, gồm: 1/ Việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình, TANDTC cần có hướng dẫn rõ trường hợp tổ chức tín dụng căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho bên thế chấp đẻ nhận thế chấp theo đúng quy định của pháp luật, thì tổ chức tín dụng là bên ngay tình được bảo vệ quyền lợi theo luật định. 2/ Hợp đồng bảo đảm bằng tiền gửi ngân hàng bị tuyên vô hiệu (một phần hoặc toàn bộ) do chỉ có người gửi tiền ký kết, TANDTC cần hướng dẫn trường hợp tổ chức tín dụng giao kết hợp đồng bảo đảm với người đứng tên trên thẻ tiết kiệm, tài khoản tại ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật, thì tổ chức tín dụng được coi là ngay tình và giao dịch đó có hiệu lực pháp luật. 3/ Về thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ của bên thứ ba, TANDTC cần hướng dẫn chủ sở hữu tài sản, người sử dụng đất có quyền thế chấp hoặc cầm cố tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ của mình hoặc bên thứ ba; các tổ chức tín dụng nhận thế chấp/cầm cố tài sản này phù hợp với quy định của pháp luật. 4/ Về áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm, TANDTC cần hướng dẫn áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, theo đó, khi giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu thuộc Nghị quyết 42 của Quốc hội thì Tòa án căn cứ ba điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 42 để áp dụng thủ tục rút gon; không căn cứ điều kiện quy định tại Điều 317 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. 5/ Việc hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng trong vụ án, TANDTC cần hướng dẫn về trình tự, thủ tục thời điểm/thời hạn hoàn trả các tài sản bảo đảm là vật chứng của vụ án hình sự sau khi đã hoàn tất các thủ tục xác minh chứng cứ theo quy định tại Nghị quyết 42. Đồng thời, có văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết những trường hợp có thể giải tỏa kê biên trong quá trình xét xử để ngân hàng có căn cứ đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản; quy định về việc hoàn trả tài sản bảo đảm là tang vật của các vụ việc hành chính cho các tổ chức tín dụng trong giai đoạn xét xử. 6/ Việc xác định, triệu tập người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, TANDTC cần hướng dẫn tiêu chí xác định về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, theo đó tổ chức tín dụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với các vụ việc có liên quan đến tài sản bảo đảm của khách hàng tại tổ chức tín dụng. 7/ Việc nhận và xử lý tài sản bảo đảm của hộ gia đình, TANDTC cần hướng dẫn trường hợp giao dịch bảo đảm không có tham gia của một trong các thành viên trong hộ gia đình, đối với các tài sản có thể phân chia (hiện vật hoặc giá trị), thì Tòa án tuyên hợp đồng bảo đảm vô hiệu một phần. Trường hợp có căn cứ xác định thành viên đó đã biết và không có ý kiến khiếu nại và/hoặc đã được hưởng lợi từ giao dịch bảo đảm đó thì được coi là đã chấp thuận và tuyên không vô hiệu. 8/ Việc người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch với chính mình, TANDTC cần hướng dẫn các tòa án trong quá trình xét xử, không áp dụng quy định tại Khoản 3 Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015 để tuyên vô hiệu đối với các hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm đã ký 3 bên như các trường hợp nêu trên. 9/ Về trường hợp nhiều tài sản bảo đảm cho một khoản vay và ngược lại, TANDTC cần hướng dẫn các Tòa không đưa ra yêu cầu tổ chức tín dụng phải xác định tỷ lệ bảo đảm của từng tài sản trên khoản nợ chung, khi hợp đồng bảo đảm thỏa thuận bảo đảm toàn bộ nghĩa vụ, và cũng không chấp nhận yêu cầu này của các đương sự khác trong vụ án trong trường hợp hợp đồng bảo đảm đã thỏa thuận tài sản bảo đảm cho toàn bộ các nghĩa vụ. 10/ Việc xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản bảo đảm, TANDTC cần hướng dẫn việc xem xét, thẩm định tại chi chi tiết các nội dung như: các trường hợp, đối tượng tài sản cần phải/không cần xem xét, thẩm định tại chỗ; nghĩa vụ chịu chi phí đối với trường hợp Tòa án quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ và phải được ghi nhận tại bản án/quyết định của tòa. 11/ Về ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng, TANDTC cần hướng dẫn cụ thể việc Tòa án thu thập và đương sự cung cấp, giao nộp tài liệu chứng cứ “dữ liệu điện tử” trong quá trình giải quyết tranh chấp. 12/ Về thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng tín dụng, TANDTC cần hướng dẫn các Tòa án các cấp chấp nhận những thỏa thuận về phạt vi phạm trong thỏa thuận cho vay, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 13 thông tư 39/2016/TT-NHNN. 13/ Về quy định về chủ thể của quan hệ bảo đảm bằng tài sản, TANDTC cần hướng dẫn xét xử, theo đó các giao dịch do hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân do người đại diện theo ủy quyền (theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015) ký hoặc người đại diện đương nhiên (theo quy định của các luật chuyên ngành khác) ký đều có hiệu lực. 14/ Việc đình chỉ thi hành án tài sản của bên thứ ba trong quá trình giải quyết phá sản, TANDTC căn cứ quy định tại Khoản 4 Điều 19 Nghị quyết 42 “… Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm củ khoản nợ xáu quy định tại Nghị quyết này” để bổ sung Nghị quyết 03/2018, theo đó quy định không tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án về xử lý tài sản bảo đảm là tài sản của bên thứ ba, đối với trường hợp Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc ra quyết định mở thủ tục phá sản.

Nhóm các vướng mắc, bất cập đề nghị Tòa án Nhân dân Tối cao cải tiến về thủ tục hành chính tố tụng, gồm có: 1/ Về hồ sơ khởi kiện: kiến nghị các tổ chức tín dng ch cung cấp hồ sơ pháp lý 01 lần cho tòa án (tòa án sẽ lưu và sử dụng cho các lần sau), nếu ngân hàng só sự thay đổi về hồ sơ pháp lý thì ngân hàng có trách nhiệm cập nhật kịp thời cho tòa án hoặc tạo 01 thư mục trên cổng thông tin điện tử của Tòa án Nhân dân Tối cao để các tổ chức tín dụng gửi và cập nhật thông tin hồ sơ pháp lý của các tổ chức tín dụng (bản scan), khi phát sinh việc khởi kiện, các tòa án sẽ sử dụng các hồ sơ pháp lý được đăng tải trên cổng thông tin này. 2/ Về việc gửi văn bản tố tụng: kiến nghị tòa án các cấp gửi văn bản thông báo, quyết định tố tụng cho các tổ chức tín dụng theo đúng địa chỉ, thông tin ghi trong đơn khởi kiện.

Nhóm các vướng mắc do quy định của pháp luật đề nghị Tòa án Nhân dân Tối cao đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, gồm: 1/ Hoàn thiện quy định về xử lý tài sản bảo đảm trong các vụ việc vi phạm hành chính: kiến nghị tòa án phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền về việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm trong các vụ việc hành chính, nhất là tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng khi xử lý thu hồi nợ xấu (theo Nghị quyết 42 của Quốc hội) như quy định về xử lý về xử lý vật chứng của các vụ án hình sự. 2/ Việc xây dựng án lệ liên quan đến lĩnh vực tín dụng ngân hàng: kiến nghị Tòa án Nhân dân Tối cao đẩy mạnh việc xây dựng án lệ liên quan đến lĩnh vực ngân hàng mà Ngân hàng Nhà nước, Hiệp hội Ngân hàng và các tổ chức tín dụng đã đề xuất trong thời gian qua.

Xem 135 lần
Đánh giá bài này
(2 bình chọn)
Xem theo ngày tháng

Gửi bình luận

Chắc chắn rằng bạn đã điền đầy đủ các thông tin bắt buộc, được đánh dấu bởi dấu (*). Không cho phép dùng mã HTML.