Trang nhất Đào tạo Quản lý ngoại hối của ngân hàng trung ương trên thế giới


Quản lý ngoại hối của ngân hàng trung ương trên thế giới

Trong bối cảnh thị trường ngoại hối trên thế giới đang có những biến chuyển mạnh và ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường ngoại hối tại Việt Nam, việc khảo sát thị trường ngoại hối trên thế giới, đặc biệt là cách quản lý ngoại hối trên thế giới là điều cần thiết để có thể rút ra những kinh nghiệm và bài học cho việc quản lý ngoại hối ở Việt Nam

Thị trường ngoại hối là một thị trường lớn nhất trong nền kinh tế toàn cầu. Với tổng số lượng giao dịch trên toàn thế giới lên đến trên 4 ngàn tỉ đô la Mỹ mỗi ngày thị trường ngoại hối được sử dụng để thanh toán những hoạt động mậu dịch giữa các quốc gia, luân chuyển nguồn vốn qua các biên giới, thanh toán và hoán đổi đồng tiền giữa các chính phủ, các tổ chức tài chính và phi tài chính và các thành phần kinh tế khác trên toàn thế giới. Số lượng giao dịch này ngày càng tăng do sự phát triển mậu dịch và tiến trình toàn cầu hóa.  Cùng với số lượng tăng cao là những biến động trên thị trường ngoại hối và các biện pháp của các chính phủ hay các khu vực kinh tế (như EU) càng ngày càng trở nên quyết liệt hơn để bảo vệ cho đồng tiền và nền kinh tế của mình.  Ngày hôm nay có nhiều người đang nói đến một cuộc chiến tranh tiền tệ có khả năng xảy ra bất cứ lúc nào giữa những cường quốc và các khu vực kinh tế của thế giới.

Vì sự bao quát và phức tạp của thị trường ngoại hối trên thế giới, phần trình bày của tác giả giới hạn vào hai khía cạnh quan trọng trong thị trường ngoại hối: quản lý dự trữ ngoại hối của các ngân hàng trung ương (NHTƯ), và quản lý rủi ro trong giao dịch ngoại hối của các ngân hàng thương mại (NHTM) và các doanh nghiệp (DN).

Quản lý ngoại hối của NHTƯ

Dự trữ ngoại hối của các NHTƯ: Theo những khảo sát mới đây của BIS (Bank for International Settlements) dự trữ ngoại hối của các NHTƯ trên thế giới càng ngày càng tăng cao.  Một cuộc khảo sát vào năm 2007 cho thấy Trung Quốc là nước tích lũy dự trữ ngoại hối cao nhất với tổng dư số dự trữ vào tháng 12/2007 là 1,528 tỉ USD (hiện nay lên đến 2,850 tỉ USD), theo sau là Nhật Bản với dư số là 948 tỉ USD và Nga 464 tỉ USD

Bảng số 1: Xếp hạng dự trữ ngoại hối của 24 NHTƯ vào tháng 12/2007 của BIS*

Country

Reserve outstanding

Country

Reserve outstanding

Country

Reserve outstanding

China**

1.528,3

Singapore

162,5

UK

49,0

Japan

948,4

Hong Kong

153,7

USA

45,8

Russia

464,0

Algeria

110,2

Switzerland

44,5

Taiwan

270,3

Malaysia

100,6

Argentina

44,2

India

266,6

Mexico

86,3

Canada

41,0

Korea

261,8

Thailand

85,1

Saudi Arabia

32,3

Euro area

203,2

Turkey

73,4

South Africa

29,6

Brazil

179,4

Indonesia

54,7

Australia

24,8

(*Bảng xếp hạng này bao gồm chủ yếu các NHTƯ trong nhóm G20 và những NHTƯ có dự trữ ngoại hối trên USD80 tỉ.** Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc cuối năm 2010 lên đến 2.850 tỉ USD)

Những tài sản của dự trữ ngoại hối thường bao gồm nhiều loại tài sản bằng nhiều ngoại tệ khác nhau chủ yếu là tiền gửi tại các ngân hàng, công khố phiếu của chính phủ và các chứng từ có giá khác. Công khố phiếu dài hạn là những loại tài sản dự trữ càng ngày càng được ưu tiên, tuy nhiên, nhiều NHTƯ đã bắt đầu đầu tư vào những loại trái phiếu doanh nghiệp (hạng investment grade), và thậm chí cổ phiếu vì lý do lợi nhuận như sẽ bàn đến trong phần sau.  Ngoài ra, công cụ phái sinh như forwards và currency swaps, futures và interest swaps cũng được sử dụng ngày càng nhiều hơn cho mục đích quản lý linh hoạt nguồn dự trữ ngoại hối.

Một điều đáng lưu ý mortgage- backed securities trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là một trong những thành phần dự trữ ngoại hối quan trọng tại nhiều NHTƯ.  Trong cơn khủng hoảng tài chính nhiều NHTƯ đã chịu những thiệt hại đáng kể khi mà nhiều chứng khoán loại này đã trở thành vô giá trị. Sau khủng hoảng loại tài sản này đã bị giảm thiểu rất nhiều trong thành phần dự trữ ngoại hối.  Cũng trong chiều hướng thuyên giảm là dự trữ vàng.  Bắt đầu từ thập niên 80 các NHTƯ đã giảm dần dự trữ bằng vàng vì tính sinh lời thấp của vàng và những biến động giá vàng trên thị trường thế giới.

So sánh với giá trị nhập khẩu bình quân mỗi tháng và nợ nước ngoài ngắn hạn, lượng dự trữ ngoại hối của các NHTƯ được xác định như sau qua một cuộc nghiên cứu của BIS năm 2008

Bảng 2: Chỉ số dự trữ ngoại hối dựa trên nhập khẩu và nợ ngắn hạn cuối năm 2007

Country

Reserves outstanding in USD billions

Reserve/Imports (Months of imports)

Reserve/Short term debt (ratio)

China**

1.528

19

14

Japan

948

18

2

Taiwan

270

16

7

Russia

464

23

5

Korea

262

9

2

Other Asia

852

8

2

Latin America

397

8

3

Middle East

271

11

3

Central and eastern Europe

223

4

1

Industrial economies

380

1

0

Theo bảng so sánh này, NHTƯ của Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Nga, và Hàn Quốc có lượng dự trữ cao nhất so với giá trị nhập khẩu bình quân mỗi tháng, cũng như có lượng dự trữ cao nhất so với nợ nước ngoài ngắn hạn..

Mục tiêu và phuơng pháp quản lý dự trữ ngoại hối của nhiều NHTƯ: Ngoài mục đích dùng dự trữ ngoại hối để can thiệp vào thị trường ngoại hối, phổ biến tại nhiều quốc gia có chế độ điều hành và kiểm soát tỉ giá, các NHTƯ sử dụng dự trữ chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của quốc gia liên quan đến những hoạt động mậu dịch, cho vay và trả nợ nước ngoài, chuyển ngân hai chiều, và các hoạt động tài chính và phi tài chính khác.  Tuy nhiên, với lượng dự trữ ngoại hối ngày càng lớn và cấu trúc dự trữ được đa dạng hóa với những loại tài sản khác nhau, mục tiêu sinh lời càng ngày càng được nhiều NHTƯ quan tâm và theo đuổi hơn. Đồng thời các NHTƯ cũng sử dụng ngày càng nhiều các công cụ phái sinh như currency và interest forwards và swaps để quản lý và điều hành chính sách ngoại hối linh hoạt hơn.

Với mục tiêu sinh lời từ việc quản lỳ dự trữ ngoại hối và do đó tăng tính rủi ro của các danh mục dự trữ, nhiều NHTƯ đã đưa vấn đề quản lý rủi ro trở thành trọng tâm trong việc quản lý dự trữ ngoại hối.

Quản trị rủi ro trong quản lý ngoại hối

NHTƯ chia rủi ro làm hai loại: rủi ro tài chính (financial risk) và rủi ro nghiệp vụ (operational risk):

Rủi ro tài chính: bao gồm rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng.  Theo truyền thống hoạt động của NHTƯ các đầu tư dự trữ phải có tính thanh khoản rất cao và các qui định pháp lý của các quốc gia đều nhấn mạnh chỉ tiêu này. 

Tuy nhiên các qui định pháp lý về NHTƯ thường không đề cập đến khía cạnh rủi ro thị trường của dự trữ ngoại hối, một loại rủi ro không thể tránh khỏi khi mà các danh mục dự trữ trở nên đa dạng, và nhất là khi NHTƯ phải giữ những tình trạng ngoại hối dương hay âm (long or short position) cho tài sản dự trữ được định giá bằng ngoại tệ nào đó. 

Về rủi ro tín dụng đây là một lĩnh vực khá nhạy cảm với NHTƯ vì ngoài rủi ro thiệt hại tài chính, thiệt hại về uy tín là điều các NHTƯ đều muốn tránh nếu xảy ra những món nợ xấu.  Các NHTƯ thường dùng đánh giá và xếp hạng tín  dụng của các tổ chức xếp hạng tín dụng uy tín trên thế giới và thường chỉ đầu tư vào giấy tở có giá của các tổ chức kinh tế có điểm tín dụng đầu tư (investment grade).

Rủi ro nghiệp vụ: Các NHTƯ có khuynh hướng tăng cường việc quản lý nội bộ trong những năm gần đây qua việc thiết lập những đơn vị phụ trách những khu vực kinh doanh riêng biệt, cơ cấu lại hệ thống báo cáo để tránh xung đột quyền lợi và nghĩa vụ, đồng thời đầu tư nhiều vào các cơ sở hỗ trợ trong trường hợp có thiên tai hay sự cố.  Vì tính phức tạp và đa dạng của các danh mục đầu tư ngày càng cao, các NHTƯ đầu tư nhiều vào hệ thống hạch toán và báo cáo tự động để định lượng và định tính những rủi ro trong quản lý ngoại hối.

 Một điều đáng quan tâm khác là càng ngày càng nhiều NHTƯ thiết lập những “qũy” riêng để quản lý một phần dự trữ ngoại hối của họ, được gọi một cách mập mờ là “Sovereign Wealth Funds (SWF)”.  Tài sản của những quỹ này tách khỏi bảng cân đối kết toán của NHTƯ.  Tại Á Châu, đáng kể là State Foreign Exchange Investment Corporation của Trung Quốc và Korea Investment Corporation của Hàn Quốc.  BIS ước đoán tổng tài sản của các SWF lên tới USD3,200 tỉ.  Việc quản lý những SWF thường ít bảo thủ hơn do với việc quản lý tài sản dự trữ trực tiếp bởi NHTƯ.

Công khai hóa và minh bạch hóa việc quản lý dự trữ ngoại hối

Các NHTƯ trên thế giới càng ngày càng tăng cường việc công khai hóa những thông tin về quản lý ngoại hối cho công chúng.  Tuy nhiên sự khác biệt ở loại thông tin, các mức chuẩn trong việc thực thi các chính sách ngoại hối, độ trễ và mức thường xuyên của các báo cáo.  Phần lớn các NHTƯ cung cấp thông tin về cơ cấu tổ chức trong việc quản lý ngoại hối, các hạn mức rủi ro chấp nhận được (risk tolerance), và nhiều NHTƯ cung cấp thông tin về các loại tài sản dự trữ với những chuẩn mực rõ ràng.  Một vài NHTƯ cho biết những loại ngoại tệ nào nằm trong reserve mix và phân nửa số các NHTƯ thông báo về kết quả kinh doanh trong việc quản lý ngoại hối

Việc tăng cường công khai hóa những thông tin về quản lý ngoại hối của các NHTƯ có nhiều nguyên nhân.  Tổng tài sản dự trữ ngoại hối của các NHTƯ được BIS dự đoán khoảng 6.300 tỉ USD vào cuối năm 2007, một khối lượng tài sản lớn nằm trong tay các NHTƯ. Một phần đáng kể trong tài sản này được thường xuyên dùng để can thiệp trong thị trường ngoại hối của các quốc gia, một phần khác để giữ thanh khoản trên thị trường, và một phần khác để đầu tư sinh lời.  Vấn đề được đặt ra thường xuyên cho các nhà làm và quản lý chính sách tiền tệ là mức độ hợp lý của dự trữ ngoại hối.  Đối với các nước có lượng dự trữ ngoại hối thấp thì hiển nhiên khả năng can thiệp vào thị trường ngoại hối của các nước này bị hạn chế, nhưng ngay cả các nước có lượng dự trữ lớn như Trung Quốc, dự trữ ngoại hối đưa ra nhiều rủi ro và thiệt hại khi thị trường ngoại tệ biến động.

Nói chung, tại các nước có chế độ tự do hối đoái thì việc đưa thông tin liên quan đến quản lý ngoại hối của NHTƯ như Federal Reserve Bank chỉ có tính cách thông tin và định hướng, còn tại các quốc gia có chế độ quản lý ngoại hối thì việc đưa thông tin có tính cách chỉ đạo.

Cùng với xu hướng nâng cao tính độc lập của NHTƯ cũng là sự yêu cầu tính minh bạch và tinh thần trách nhiệm của NHTƯ.  Đây là môt trong những động lực chính thúc đẩy NHTƯ công khai hóa việc quản lý ngoại hối.  Hơn nữa, khi các thành phần kinh tế đặt tin tưởng ở NHTƯ là cơ quan chủ đạo quản lý chính sách tiền tệ thì việc thỏa mãn nhu cầu về thông tin liên quan đến quản lý ngoại hối của quần chúng là điều tất yếu và NHTƯ dùng những thông tin đó để hướng dẫn và điều tiết thị trường. 

Liên quan đến mức độ công khai hóa thông tin về quản lý ngoại hối một trong những yếu tố quyết định việc này là liệu việc công khai hóa ảnh hưởng thế nào đối với sự hữu hiệu trong việc quản lý ngoại hối của NHTƯ?.  Tại các NHTƯ mà lượng dự trữ rất lớn và NHTƯ đóng vai trò tích cực trong thị trường tài chính để đầu tư và can thiệp thì các NHTƯ này rất do dự trong việc công khai hóa thông tin về các loại ngoại tệ dự trữ và sự phân bổ những loại ngoại tệ đó, vì sợ các thành phần tham gia thị trường có thể đón đầu và vô hiệu hóa những biện pháp của NHTƯ.  Tại các quốc gia có chế độ kiểm soát hối đoái thì nhu cầu có một khoảng không gian lớn để xoay sở có tính cách chiến thuật rất lớn, và do đó NHTƯ thường không công khai hóa những hoạt động của quản lý ngoại hối. Ngược lại, tại các quốc gia có chế độ hối đoái thả nổi và ít can thiệp vào thị trường thì việc công khai hóa thường xuyên hơn và rộng rãi hơn.  Điều này đúng với nhiều nước nói tiếng Anh và các nước Bắc Âu.

Dùng dự trữ để can thiệp vào thị trường ngoại hối của NHTƯ

Các NHTƯ can thiệp vào thị trường ngoại hối để đạt các mục đích vĩ mô như kiềm chế lạm phát và ổn định thị trường đồng thời theo đuổi các mục đích trực tiếp như tác động tỉ giá, giảm thiểu biến động tỉ giá, tạo thanh khỏan cho thị trường, và tác động dự trữ ngoại hối. 

Tại các nước đang phát triển hay mới nổi, NHTƯ can thiệp thị trường ngoại hối để hỗ trợ giá đồng nội tệ gắn liền với một hay nhiều ngoại tệ khác. Trong nhiều trường hợp NHTƯ xác định tỉ giá chính thức và dùng các biện pháp hành chính để bảo đảm tỉ giá cố định.  Trong những trường hợp khác NHTƯ giao dịch tích cực trên thị trường ngoại hối và trở thành “market makers” để đưa tỉ giá về mức mong muốn.  Trong những trường hợp này NHTƯ bán ra hay mua vào những lượng ngoại hối rất lớn với mục đích điều chỉnh tỉ giá thị trường theo hướng của NHTƯ. NHTƯ đóng vai trò dẫn dắt thị trường và đi trước thị trường.

Tại các quốc gia có chế độ quản lý hối đoái, một trong những vấn đề các NHTƯ phải giải quyết là câu hỏi tỉ giá nào là thích hợp.  Một trong những giải đáp cho câu hỏi này quan điểm làm sao tỉ giá tạo đươc sự quân bình trong cán cân ngoại thương.  Nhưng mô hình này đưa ra những khó khăn trong việc định nghĩa về sự quân bình của cán cân ngoại thương.  Một giải pháp khác là cách tính sức mua tương đương (purchasing power parity). Tuy nhiên, cách tính này cũng không bảo đảm tính thực tế trong việc so sánh cùng một loại hàng hóa tại nhiều quốc gia khác nhau.  Một giải pháp nữa là quan điểm tỉ giá phải hổ trợ phát triến kinh tế.  Với quan điểm này NHTƯ phá giá đồng nội tệ để hổ trợ xuất khẩu, tăng tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.  Chính sách này đã đưa đến việc tich lũy khối lượng dự trữ rất cao, điển hình là Trung Quốc.  Tại một số quốc gia khác với tình trạng nhập siêu cao thì chính sách này có tác dụng là làm tăng giá trị hàng nhập khẩu, góp phần gia tăng lạm phát, và do đó trong nhiều trựờng hợp bất lợi cho phát triển kinh tế.

Trường hợp của Trung Quốc là trượng hợp đáng nghiên cứu.  Sau khi nhận ra sự yếu kém của cơ chế quản lý kinh tế theo kế hoạch,  Trung Quốc đã thực hiện cải cách kinh tê từ năm 1979.  Cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế, Trung Quốc cũng tiến hành cải cách chính sách tỉ giá.  Năm 1994 Bank of China phá giá 50% đồng NDT điều chỉnh mạnh từ 5,8 NDT/USD xuống 8,7 NDT/USD đồng thời cũng thực hiện chính sách kết hối, bắt buộc các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội bán nguồn thu ngoại tệ cho các ngân hàng được ủy quyền và không cho phép các tổ chức kinh tế và cá nhân mở tài khoản để lưu giữ ngoại tệ.  Chỉ đến cuối năm 1997, khi dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng lên 139,89 tỉ USD, BoC mới nới lỏng chính sách kết hối ngoại tệ.  Sau 13 năm Trung Quốc đã xóa bỏ chinh sách kết hối.  Ngày nay, Trung Quốc đang thực hiện thí điểm cho phép một số doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu được gửi ngoại tệ ở nước ngoài.

Việc điều chỉnh tỉ giá mạnh tay vào năm 1994 đã góp phần vào vào sự tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát tại quốc gia này.  Tỉ lệ lạm phát giảm từ 24% năm 1994 xuống mức 4.6% vào cuối năm 2010 trong khi dự trữ ngoại hối tăng từ 51,6 tỉ USD lên đến 2.850 tỉ USD trong cùng thời kỳ.

Về quyền quyết định can thiệp thị trường ngoại hối thì một nghiên cứu của BIS cho thấy phần lớn các NHTƯ dành quyền quyết định những điều chỉnh lớn cho Thống đốc và một số nhỏ NHTƯ ủy quyền cho các hội đồng như hội đồng điều hành (executive board) hay hội đồng chính sách tiền tệ (monetary policy board). 

TS. Nguyễn Trí Hiếu

(4640 lượt đọc)