Hoạt động ngân hàng còn nhiều vướng mắc cần tháo gỡ

Tham dự chương trình sơ kết công tác 9 tháng đầu năm 2021 của Hiệp hội Ngân hàng (ngày 22/10), bên cạnh việc đồng tình với báo cáo kết quả hoạt động của Hiệp hội, các tổ chức hội viên thuộc nhóm ngân hàng đã đề xuất Hiệp hội Ngân hàng kiến nghị các cơ quan quản lý nhà nước sớm có quyết sách phù hợp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động; đặc biệt khi nền kinh tế bước vào trạng thái “bình thường mới”, thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19.

Nhiều khó khăn, vướng mắc

1. Khó khăn liên quan đến ảnh hưởng của đại dịch Covid-19:

Dịch bệnh Covid-19 lan rộng và diễn biến rất phức tạp kéo dài, các doanh nghiệp bị đứt gãy chuỗi cung ứng, nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng, mất hợp đồng, mất khả năng thanh toán, ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng dẫn đến nợ xấu tại ngân hàng gia tăng (tháng 8 tăng hơn tháng 7 từ 0,2-0,5%) dự kiến tăng mạnh vào cuối năm và nhất là sau ngày 30/6/2022.

Mặc dù được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ (theo Thông tư 01,03,14) song chỉ giải quyết khó khăn trong ngắn hạn, khả năng phục hồi của các doanh nghiệp sau khi kiểm soát được dịch bệnh sẽ rất chậm, khó đảm bảo theo Thông tư 14, ngân hàng cho vay mới để phục hồi sản xuất kinh doanh trên nền tảng nợ tiềm ẩn rủi ro, các ngân hàng sẽ rất thận trọng khi xem xét cho vay mới, vẫn phải tuân thủ theo quy định hiện hành (không có đặc thù) về nguyên tắc, điều kiện cho vay, lúc này các doanh nghiệp khó/không đủ đáp ứng được điều kiệntiếp cận vốn, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp.Ngoài ra, công tác về thủ tục hành chính còn gặp nhiều khó khăn; việc phân loại nhóm nợ, trích lập dự phòng rủi ro, dự phòng bắt buộc (theo TT03) lớn và hiện đang được thực hiện thủ công, điều đó khó tránh khỏi việc xảy ra sai sót trong quá trình xác định nhóm nợ khách hàng.

Trong thời gian giãn cách nhiều khách hàng là F1, Fo hoặc trong khu vực giãn cách theo Chỉ thị 16+ không thể giao tiếp được với ngân hàng để làm các thủ tục theo quy định, các cán bộ phải làm việc luân phiên hoặc 3 tại chỗ dẫn đến khó khăn trong việc giao dịch với khách hàng (thu phí dịch vụ, thu nợ, xử lý nợ xấu...),  ảnh hưởng đến công tác khởi kiện khách hàng, thu giữ, phát mại, đấu giá, xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng. Bên cạnh đó, cơ chế chính sách cho TCTD trong bối cảnh dịch Covid-19 tại các tỉnh, thành phố chịu ảnh hưởng nặng nề mới chỉ dừng ở việc cơ cấu nợ, miễn, giảm lãi, phí... còn quy trình nghiệp vụ phải xử lý theo quy phạm pháp luật hiện hành, dẫn đến các TCTD xử lý theo thực tế phát sinh nên rất dễ chịu rủi ro pháp lý sau này vì không có văn bản quy định của Ngân hàng Nhà nước

Áp lực trích dự phòng rủi ro của các TCTD đối với các khoản nợ cơ cấu cho khách hàng chịu ảnh hưởng Covid-19 rất lớn, ngay trong năm 2021 trích tối thiểu 30% và phải trích hết 100% vào cuối năm 2023 dẫn đến nhiều TCTD giảm lợi nhuận đáng kể, một số ngân hàng phải đề nghị điều chỉnh kế hoạch doanh thu năm 2021.

Một trong những giải pháp được đẩy mạnh là phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, tuy nhiên ảnh hưởng của dịch bệnh nên thu nhập của khách hàng bị giảm sút, kéo theo nợ xấu thẻ tín dụng gia tăng, kéo theo tình trạng gian lận và lừa đảo với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi và phức tạp. Thêm vào đó, vướng mắc về hành lang pháp lý trong việc cung cấp đa dạng các loại hình sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số, dịch vụ thanh toán số và trải nghiệm khách hàng, cho vay online còn chưa ổn định. Thông tin dữ liệu khách hàng cấp vĩ mô đang chuẩn hóa, nhưng còn thiếu (dữ liệu về dân cư). Cơ chế hợp tác, chia sẻ dữ liệu giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác như Fintech… chưa rõ ràng, chưa mang tính mở. Tỷ lệ giao dịch offline, giao dịch tiền mặt, còn cao, đặc biệt tỷ lệ giao dịch tiền mặt ở khu vực nông thôn còn rất cao. Nhiều hệ sinh thái được phát triển một cách tự phát và chưa có sự liên thông. Cơ chế thí điểm Sanbox cho việc thử nghiệm các sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng sau nhiều vòng lấy ý kiến của các cơ quan bộ ban ngành nhưng đến nay vẫn chưa được ban hành.

2. Khó khăn liên quan xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42/2017/QH14:

Bên cạnh kết quả đạt được, trên thực tiễn, việc xử lý nợ xấu và giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến tài sản bảo đảm của các TCTD còn nhiều khó khăn, đó là:

Do thiếu sự phối hợp của khách hàng, thêm vào đó, chính quyền địa phương và các cơ quan có thẩm quyền thiếu sự quyết liệt và đồng bộ khiến việc xử lý nợ xấu, đặc biệt là việc thu giữ tài sản, chuyển nhượng tài sản bảo đảm của khách hàng còn ách tắc.

Khó khăn do thiếu sự hướng dẫn của ngành Tòa án về việc thụ lý giải quyết tranh chấp nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm, thủ tục tố tụng rút gọn; thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm, (nộp thuế, phí thi hành án).

Khó khăn trong việc khởi kiện khi khách hàng không hợp tác (bỏ trốn), vướng mắc về phía cơ quan thi hành án, về các thủ tục thi hành án, cưỡng chế thi hành án, bàn giao tài sản bảo đảm,….

Ngoài ra, đối tượng của Nghị quyết 42 chỉ tập trung vào các khoản nợ được hình thành trước khi Nghị quyết này có hiệu lực (ngày 15/8/2017). Trong khi đó, Nghị quyết 42 sẽ hết hiệu lực vào 15/8/2022 mà nợ xấu có xu hướng gia tăng nhanh trong thời tới do ảnh hưởng của dịch Covid-19 kéo dài từ đầu năm 2010 đến nay, nhất là đợt bùng phát dịch lần thứ 4, nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng rất nặng nề.

3. Khó khăn do vốn và thực hiện áp dụng chuẩn Basel II:

Việc triển khai Basel II đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, sự đầu tư lớn về tài chính, nguồn nhân lực, hệ thống công nghệ thông tin, năng lực thanh tra. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 41/2016/TT-NHNN và Thông tư 13/2018/TT-NHNN để triển khai 3 trụ cột theo phương pháp tiêu chuẩn Basel II. Tuy nhiên bài toán về vốn vẫn đang là vướng mắc lớn để các ngân hàng đạt được yêu cầu, đáp ứng chuẩn Basel II, đặc biệt trong bối cảnh thị trường diễn biến không thuận lợi, trong khi các ngân hàng vẫn đang tập trung xử lý nợ xấu của nhiều năm trước. Điều này còn trở nên khó khăn hơn khi hiện nay ngân hàng lại phải dành nguồn lực để cơ cấu lại nợ, giảm lãi, giảm phí hỗ trợ khách hàng và nền kinh tế vượt qua đại dịch COVID-19.

Về việc cấp bổ sung vốn điều lệ cho ngân hàng TMNN từ vốn NSNN vẫn chưa hoặc khó được thực hiện khi nguồn NSNN đang khó khăn do ảnh hưởng Covid-19 dẫn đến ảnh hưởng đến việc thực hiện chuẩn Basel theo quy định tại Thông tư 41 cũng như ảnh hưởng đến tiến trình cổ phần hóa (Agribank). Bên cạnh đó cơ chế cấp bù lãi suất chưa được kịp thời khi các ngân hàng thực thi cho vay theo NĐ 67, 55 và chính sách lãi suất cho 5 ngành ưu tiên,...

Đề xuất, kiến nghị

Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp - đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 song vẫn chia sẻ, hỗ trợ các khách hàng chịu ảnh hưởng bởi đại dịch bằng cách tiết giảm chi phí, giảm lương, thưởng để miễn giảm lãi, phí... cho khách hàng. Vì vậy các ngân hàng cũng rất cần được chia sẻ, hỗ trợ của Chính phủ và các Bộ, ngành để có thêm điều kiện, nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. 

1. Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước:

Xem xét những vướng mắc, bất cập của các ngân hàng hiện nay trong thực tiễn thực hiện Thông tư 01/2020/TT-NHNN, Thông tư 03/2021/TT-NHNN và Thông tư 14/2021/TT-NHNN để có giải pháp hỗ trợ tốt hơn cho khách hàng và ngân hàng do tác động của đợt bùng phát dịch Covid-19 lần 4; Tăng cường tổ chức hội thảo về tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm quản lý rủi ro giữa các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trước các diễn biến bất lợi của các yếu tố bên ngoài như dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế.

Tăng cường cho vay tái cấp vốn, tiếp tục linh hoạt (nới) hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với các ngân hàng nhằm có thêm nguồn lực giảm lãi suất, cung ứng tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp, nền kinh tế phục hồi sau đại dịch, đồng thời tiếp tục đưa ra các chính sách, định hướng cho các các tổ chức tín dụng để hỗ trợ đúng, đủ cho các đối tượng thực sự bị ảnh hưởng bới dịch Covid-19; điều chỉnh quy định về tỷ lệ an toàn theo Thông tư 22/2019 (khi tính tỷ lệ LDR (dư nợ/tổng tiền gửi), tính tỷ lệ dự trữ thanh khoản, thời hạn gửi báo cáo tỷ lệ an toàn vốn,...).

2. Kiến nghị Chính phủ, Quốc hội:

Hậu Covid-19 dẫn đến hệ quả là nợ xấu của các tổ chức tín dụng sẽ tăng trong bối cảnh Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của của các tổ chức tín dụng sẽ hết hạn vào tháng 8/2022. Vì vậy, Chính phủ xem xét tổng kết Nghị quyết 42 của Quốc hội để từ đó kiến nghị Quốc hội cho phép ban hành Luật xử lý nợ xấu hoặc văn bản gia hạn, thay thế với nội dung kế thừa đầy đủ các quyền của tổ chức tín dụng và sửa đổi, bổ sung thêm các nội dung tạo sự chủ động tối đa cho tổ chức tín dụng khi xử lý thu hồi nợ làm cơ sở đẩy nhanh công tác xử lý nợ xấu, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động của các tổ chức tín dụng. Tập trung giải quyết dứt điểm những khó khăn, vướng mắc về cơ chế cũng như trong thực tế áp dụng Nghị quyết số 42/2017/QH14, trong đó bao gồm khó khăn, vướng mắc cụ thể liên quan đến Bán nợ xấu và tài sản bảo đảm theo giá trị thị trường, phát triển thị trường mua bán nợ; Cơ chế tiếp cận thông tin về tình trạng tài sản bảo đảm; Quyền thu giữ tài sản bảo đảm; Thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm và việc nộp thuế khi chuyển nhượng tài sản bảo đảm; có hành lang pháp lý cho việc quản lý bất động sản từ các chủ đầu tư dự án để các tổ chức tín dụng có cơ sở cấp tín dụng cho các dự án này và có sơ sở để nhận các bất động sản này làm tài sản bảo đảm,...

Xem xét sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng, tạo môi trường pháp lý lành mạnh cho tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng, phù hợp hơn với chuẩn mực, thông lệ quốc tế và thực tiễn hoạt động hiện nay của các tổ chức tín dụng trong đó có việc mở rộng hoạt động cho các tổ chức tín dụng như nghiệp vụ đại lý (đại lý quản lý tài sản, tư vấn hồ sơ phát hành trái phiếu doanh nghiệp,..).

Quan tâm xem xét cấp bổ sung vốn Điều lệ cho ngân hàng thương mại nhà nước theo phương án đã xây dựng và Nghị quyết của Quốc hội, có thể theo phương án được giữ lại lợi nhuận sau thuế, trả cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn điều lệ; phát hành thêm cổ phiếu cho để tăng vốn; bố trí nguồn vốn ngân sách đảm bảo kịp thời đủ cấp bù vốn đã cho vay theo các chương trình của Nhà nước để nâng cao hệ số an toàn vốn, phát triển hoạt động kinh doanh, có cơ hội mở rộng tín dụng đối với các ngành chiến lược, trọng điểm quốc gia các ngân hàng thương mại nhà nước.

3. Kiến nghị các cơ quan quản lý:

Đẩy nhanh việc hoàn thiện khuôn khổ hành lang pháp lý liên quan đến áp dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng, trong đó sớm trình Chính phủ ban hành Luật Giao dịch điện tử sửa đổi, thay thếLuật Giao dịch điện tử từ năm 2005; ban hành Nghị định mới về thanh toán không dùng tiền mặt, cơ chế thử nghiệm hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng; cơ chế chia sẻ thông tin - dữ liệu giữa ngân hàng, fintech và các trung gian thanh toán khác; Sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến việc chấp nhận giao dịch điện tử trong các Thông tư liên quan đến nghiệp vụ ngân hàng nói chung từ đó xây dựng hành lang pháp lý quan trọng giúp các tổ chức tín dụng hoàn thành mục tiêu số định hướng đến năm 2030. Bên cạnh đó, kiến nghị các cơ quan quản lý cần hoàn thiện cơ sở dữ liệu thông tin quốc gia thống nhất, cho phép tổ chức tín dụng được khai thác, phục vụ quá trình cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng...

Những khó khăn, vướng mắc đều có nguyên nhân chủ quan, khách quan. Để khắc phục những khó khăn nội tại, các ngân hàng hội viên đã có nhiều cách thức như: chủ động rà soát, điều chỉnh quy chế, quy trình nghiệp vụ, tiết giảm các thủ tục hành chính đảm bảo giao dịch của khách hàng an toàn, thuận tiện; chủ động đầu tư hạ tầng, xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số, đa dạng các chủng loại sản phẩm dịch vụ tiện ích mang đến cho khách hàng nhiều trải nghiệm; xây dựng văn hóa doanh nghiệp, thực hành tiết kiệm… Các biện pháp, giải pháp đã góp phần đáng kể để các ngân hàng thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, có thêm nguồn lực hỗ trợ miễn, giảmphí, lãi suất cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi Covid-19 trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, những vướng mắc về cơ chế, chính sách, về khung pháp lý cho hoạt động ngân hàng như đã nêu, nếu được các cơ quan có thẩm quyền sớm xem xét, sửa đổi, bổ sung kịp thời, sẽgiúp cho hoạt động ngân hàng ngày càng hiệu quả, phát triển an toàn, bền vững và phù hợp với thông lệ quốc tế.

footer